![]()
ĐỖ ĐÌNH TRUẬT
Cũng giống như một số dân tộc khác trên hành tinh này, người Việt Nam từ xưa đến nay vẫn coi cái chết không phải là hết. Chết còn để mồ mả, di cốt cho con cháu. Chết nhưng còn lại nhiều ấn tượng tình cảm, tâm linh, phúc đức mà tượng trưng cho sự vĩnh hằng đó là “một nấm mồ”.
Người xưa thường nói: “Còn mồ, còn mả, là còn tổ tiên ông bà con cháu, còn nước còn non!”. Mồ mả đã có từ thời Hùng Vương cho đến ngày nay. Vua quan thì lăng tẩm; dân thường là mồ đá, mộ gạch; dân nghèo thì “vùi nông một nấm” cũng gọi là mồ mả và cứ thế theo chiều sâu phát triển của thời gian, theo bước đường đi khai lập, đi đến đâu, chết để lại mồ mả ở đó. Vì vậy mồ mả còn là việc “xí đất” để giữ nhà, giữ nước.
Khi người Việt vào khai vỡ xứ Gia Định, buổi đầu mở đường này đi mười người chỉ còn ba người, vì vùng “ma thiêng nước độc”, có lúc phải hy sinh chống lại với bao sự ngăn cản khác. Nên cái chết, cái hy sinh ở vùng đất mới này còn là sự phô trương, thị oai nữa, vì vậy mà mồ mả phải to, phải lớn, lăng tẩm phải đồ sộ.
Ngành Khảo cổ học đã khảo sát và thống kê về loại hình mộ hợp chất (tức là mộ có xác ướp, xây bằng hợp chất với mật đường, cát sỏi và xác thực vật). Ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện có hơn 500 mộ, trong đó Thủ Đức là địa bàn có số lượng mộ hợp chất chiếm cao nhất. Có hai nhóm mộ: Nhóm mộ thuộc tộc họ Hồ Văn Rằng, ông nội của bà Hồ Thị Hoa (vợ vua Minh Mạng) thời khai ấp và nhóm mộ của dòng họ Tạ Huy, hiệu là Thủ Đức. Cả hai nhóm này đều tập trung ở khu vực Linh Chiểu Đông và Linh Chiểu Tây.
Một nhóm khác ở Thành phố Hồ Chí Minh là nhóm mộ ở Phú Nhuận và Bình Thạnh. Trong đó, có nhóm “mả hầu” tức là mả của những người có công hầu, quan ấn của nhà Nguyễn. Khu vực này bắt đầu từ lăng Ông Bà Chiểu đến mộ Nguyễn Văn Học ở bệnh viện Nguyễn Văn Học kéo dài đến dọc đường Lăng Võ Tánh, đến hết phần đất của Quân khu 7 và còn phân bố dọc theo đường Nguyễn Văn Trỗi đến kênh Nhiêu Lộc (Thị Nghè) có các lăng của Trương Tấn Bửu và một số công thần khác.
Ở quận 1 không có nhiều mộ cổ như ở các quận khác vì đây chính là Đại bản doanh của thành Gia Định.
Quận 3 xưa là nơi hành trảm tội nhân nên mới có nhóm mộ Huỳnh Công Lý. Và gần khu Trường đua Phú Thọ là bãi tha ma cổ, nơi để xử chém phạm nhân. Nơi đây có nhiều nấm mồ tập thể của vụ nổi dậy của Lê Văn Khôi 1834-1835.
Ở quận 5, số lượng mộ cổ chiếm khá lớn. Vì người xưa cho rằng địa lý quận 5 có long mạch khá tốt nên những người giàu có (người Việt lẫn người Hoa) đều chọn là nơi chôn người chết. Điển hình là mộ xác ướp của bà Nguyễn Thị Hiệu, có thể là cô ruột của vua Gia Long, mất năm Kỷ Tỵ (1869), nay xác được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh.
Quận 11 và Tân Bình, mộ cổ được phát hiện chiếm số lượng không nhỏ, phần nhiều là của sư sãi, thầy thuốc và ẩn sĩ.
Trên vùng đất Gia Định xưa, có cả Trấn Biên Hoà, Trấn Định Tường (nay là Tiền Giang) (chưa nói đến khu vực miền Tây), thì số lượng mộ hợp chất hiện còn gần 2.000 ngôi. Đó là các nhóm mộ thuộc họ tộc Phạm Trang Khải đời Minh Mạng và nhóm mộ của người Minh Hương cổ.
Nhìn chung, trên 500 ngôi mộ cổ phân bố quanh thành Gia Định xưa hiện còn là một con số rất ít ỏi. Số lượng mộ được giới Khảo cổ học nghiên cứu không nhiều (khoảng hơn 100 mộ) vì nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân chính là nguồn kinh phí eo hẹp và phần lớn ngành xây dựng tự khai quật không thông báo cho cơ quan có chức năng nghiên cứu hay biết, đó cũng là tổn thất nặng nề đối với các di sản văn hoá thành phố ta.
*
Thành phần vật liệu để xây dựng mộ hợp chất là một hỗn hợp trộn lẫn vào nhau gồm: Vôi sống bằng đá san hô giã nhỏ, cát, nước nhớt từ thực vật và rỉ đường hay mật ong không thông qua lửa nung nên gọi là vôi sống. Rỉ đường mía là một loại a-xít hữu cơ. Nó là một chất dẻo vô cùng kỳ lạ, phối hợp nó với a-dao mà xây cất quả không có loại xi-măng nào sánh bằng. Sự bền vững này tuỳ thuộc vào kỹ thuật pha chế theo một tỷ lệ nhất định. Người Champa xưa chỉ dùng rỉ đường và a-dao, có thể trộn thêm một ít nhựa cây dầu chai vào thành một hỗn hợp gắn kết gạch xây với nhau thay cho hồ, vữa mà vô cùng chắc chắn.
Đặc tính của hỗn hợp vật liệu để xây dựng mộ hợp chất là giãn nở, dẻo, không dẫn lực, sức chịu lực lên tới 100 – 200kg, không dễ gì phá chúng được. Trong một phân vuông, chúng có hàng triệu lỗ nhỏ li ti để chứa một lượng yếm khí rất ổn định. Đây là yếu tố quan trọng để xác ướp nằm trong khối lượng hợp chất này một cách yên ổn qua những mùa mưa nắng. Nhờ vậy mà những mộ hợp chất cổ ở Việt Nam chỉ cần khối lượng nhỏ là đủ để đặt xác an toàn, trong khi đó ở Trung Quốc, muốn để được xác Tần Thuỷ Hoàng phải đục sâu đến nửa ngọn núi Hoàng Sơn mới đặt ổn định, ở Ai Cập thì phải xây Kim Tự Tháp để đặt xác của các Pha-ra-ông.
Vật liệu xây dựng mộ hợp chất xuất hiện rất sớm như lăng Sĩ Nhiếp thời Đông Hán xây dựng ở quận Thuận Thành (Bắc Ninh), đến thời Lý Trần được dùng để xây dựng thành quách, thời Lê – Trịnh dùng xây cất lăng tẩm, mồ mả.
Ngày nay chúng ta thấy nhà máy xi-măng đã ứng dụng kỹ thuật này trong việc sản xuất xi-măng chịu lực lớn, chống nước mặn phục vụ cho ngành dầu khí.
*
1. Điểm lại những xác ướp đã được phát hiện ở Việt Nam và Gia Định:
Xác ướp ở Việt Nam cách nay khoảng 30 thập niên, cũng đã làm thế giới quan tâm đến, nhất là về mặt y học cổ của Việt Nam.
Thật vậy, kể từ khi phát hiện được xác ướp của Lê Dụ Tông, kế tiếp là của một người nữ quý tộc ở Thanh Hoá. Xác ướp thứ ba phát hiện ở khu tập thể gần bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), chủ nhân là Nguyễn Huy Tự tên huý là Đức. Xác thứ tư là xác một vũ nữ thời Lê được khai quật ở Kim Anh gần Đa Phúc. Xác thứ năm là Vũ Phạm Khải, một quan chức thời Nguyễn ở Hà Nam. Xác thứ sáu là bà Phạm Thị Nguyên Chân, chính thất của phụ quốc tướng quân Đặng Đình Tướng thời Lê hay còn gọi là bà Phủ Dày. Xác này còn tốt nhất có thể còn đỡ ngồi dậy được, tìm thấy năm 1972 ở Vụ Bản (Nam Hà).
Ở phía Nam thì phát hiện xác ướp còn khá tốt ở Phù Cát (Bình Định). Chủ nhân là nữ, nhạc mẫu thời Tây Sơn. Nhưng đáng tiếc là miền Bắc và miền Trung cho đến nay không giữ được một xác ướp nào để làm tiêu bản cho lịch sử và y tế.
Thành phố Hồ Chí Minh và rộng ra trong vùng đất của Gia Định xưa, chúng tôi cũng phát hiện được nhiều xác ướp. Điển hình và còn tốt nhất là xác ướp của bà Nguyễn Thị Hiệu tại Xóm Cải thuộc quận 5.
2. Kỹ thuật và dược liệu ướp xác:
Quá trình nghiên cứu về dược học và y học, nhóm giáo sư Trường Đại học Y Dược đã nhận định: Trong xác ướp của bà Hiệu hoàn toàn không có các thành phần sát trùng cao của y học hiện đại như: Thuỷ ngân, lưu huỳnh, a-xít đồng, kiềm, chì… và đi đến kết luận bước đầu là xác bà Hiệu không phải là xác ướp (GS. Nguyễn Quang Quyền).
Nhưng ở giai đoạn 2, GS. Nguyễn Quang Quyền kết hợp với chúng tôi và một số thành viên của Viện Y học Dân tộc đã tìm ra các thành phần dược liệu như: Dầu thông, dầu trầm, trầm thẻ, mật ong rừng, sâm cao ly và xạ hương tạo thành một dung dịch hỗn hợp giữ xác. Đồng thời còn có một số cây, lá thực vật có vai trò hút ẩm cho thi hài ở giai đoạn đầu. Dựa trên dược liệu dân tộc này, một lần nữa giáo sư Quyền kết luận: “đã có một kỹ nghệ về xác ướp cổ ở Việt Nam”.
Đứng đầu nhóm dược liệu này là nhựa thông. Thông càng lâu năm thì gọi là hổ phách, có tác dụng chủ công trong việc giữ xác, chiếm 70% so với các thành phần còn lại. Nhựa thông ngoài vai trò diệt trùng, diệt vi khuẩn còn là một lớp keo phủ lên cơ thể người chết hoàn toàn đảm bảo. Các chất còn lại làm cho nội và ngoại tạng người chết không co và teo lại, đồng thời cũng góp phần bảo vệ và diệt trùng, như xạ hương có tác dụng diệt khuẩn cho thi hài lúc mới chết; sâm cao ly làm lạnh xác trong một thời gian đến khi nhựa thông có tác dụng hữu hiệu; trầm hương có tác dụng yếm khí trong áo quan, cắt đứt đường hô hấp của vi trùng và vi khuẩn bám theo xác.
Yếu tố cuối cùng là áo quan hai đáy, khép kín và một dung dịch nước dược liệu nằm ở phần dưới. Nước dung dịch được luân chuyển liên tục lên phần trên của thi hài chống sự khô tóp của xác khi gặp mùa khô. Vào mùa mưa, khi có một độ ẩm nhất định thì tự nó không hoạt động nữa. Sự tuần hoàn này diễn ra một cách đều đặn dù thời gian kéo dài 100 năm hay 300 năm chăng nữa thì lượng dung dịch cũng không vơi đi bao nhiêu. Loại áo quan này được sử dụng cho việc ướp xác ở miền Bắc và miền Nam đều giống nhau, kỹ thuật truyền thống này cũng giống nhau. Nhờ kỹ thuật tài tình này của người xưa ở Việt Nam mà nhiều nhà nghiên cứu xác ướp cổ nước ngoài cũng đã ngạc nhiên, đặc biệt là các nhà nghiên cứu xác ướp cổ Ai Cập. Các báo chí khoa học nước ngoài cũng đã viết nhiều về kỹ thuật ướp xác ở Việt Nam, khuyến khích và mong muốn được hợp tác nghiên cứu.
*
Nói đến văn hoá mộ táng nghĩa là nói đến sự tổng hợp của nhiều truyền thống văn hoá vào trong lĩnh vực văn hoá chôn người. Nó bao gồm các vấn đề sau:
1. Ý niệm tâm linh, phong thuỷ, địa linh nhân kiệt và huyệt đạo.
2. Kiến trúc theo ý niệm tâm linh, kỹ thuật tôn giáo.
3. Mỹ thuật đồ hoạ theo ý niệm tôn giáo, môi trường và điều kiện kinh tế của con người.
Ba loại ý niệm này thường có trong một ngôi mộ cổ. Nhất là những mộ cổ ở Gia Định.
Người ta thường quan niệm phải đặt mộ nơi có phong thuỷ tốt để cho con cháu làm ăn phát phú, trường tồn, tránh được những điều không may. Muốn vậy, thầy địa lý phải chọn một nơi có long mạch hội tụ đủ kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ; có long, ly, quy, phụng ứng chầu để đặt quan tài thì mả mới kết và phát. Nguyên tắc là “cốt thịnh thì huyết thịnh”. “Cốt” là người nằm dưới mồ, “huyết” là con cháu dài lâu. Nếu đặt ông bà, cha mẹ nằm ở nơi có long mạch khuyết là con cháu làm ăn lụn bại. Do quan niệm như vậy, mà người xưa rất coi trọng việc này, nên việc đặt mồ mả xưa là việc vô cùng hệ trọng, thường được giao cho thầy địa lý quyết định.
Hơn 100 ngôi mộ cổ ở Sài Gòn được khai quật thì hầu như đã được thực hiện đúng như vậy. Theo hướng la bàn để kiểm tra lại thì thấy ngôi mộ nằm rất đụng theo cung mệmh của người chết, kiểm tra đất và thực địa thì rất đúng với âm dương ngũ hành.
Như chúng ta đã biết, Nguyễn Văn Học và Trịnh Hoài Đức là hai nhà sử học và cũng là hai nhà địa lý giỏi đã cho rằng: Gia Định là vùng đất hội tụ long mạch, nên đất Gia Định rất phát.
Người Gia Định xưa cũng rất sợ sự trừ yểm mồ mả của cha ông mình, như là triệt phá long mạch hoặc đào trộm mồ mà lấy cốt mang đi… vì lẽ đó mà việc đề phòng kẻ xấu được người xưa rất quan tâm. Người ta đặt thuốc độc vào áo quan hoặc làm mồ mả giả, đặt thuốc độc bùa chú vào các hướng của mộ, hễ ai đào trúng thì phải chết. Một số mộ cổ ở Gia Định cũng không loại trừ điều này.
Cũng có trường hợp người Trung Quốc xưa đem lính hay nô lệ, người ăn kẻ ở chôn ở góc mộ để giữ mồ, gọi là thần giữ cửa. Ở miền Bắc, chúng tôi đã thấy các mộ cổ ở đất ta như trường hợp một mộ cổ phát hiện ở Mạo Khê (Uông Bí – Quảng Ninh) đã làm như vậy.
“Văn hoá mộ táng” ở đất Gia Định xưa là một kho tàng văn hoá thật sự phong phú. Nó có truyền thống thống bắt nguồn từ Bắc xuống Nam qua các thời đại, đến đất Gia Định, một vùng đất tốt nhất để loại hình văn hoá này phát triển ở số lượng cao nhất của cả nước.
“Văn hoá mộ táng” còn đưa vào nó một ý thức dân tộc, giống nòi không nhỏ. Đất Gia Định là một vùng đất mới khai lập nên mồ mả còn là một võ khí tinh thần để phô trương trong việc giữ nước, giữ nhà.
“Văn hoá mộ táng” còn chứa đựng nhiều tài sản quý hiếm của nhân dân, chứa đựng nhiều kiến thức khoa học trong việc ướp xác và có nhiều mối liên quan đến ý niệm về phong thuỷ, tâm linh – là những ý niệm khoa học thần bí của người Gia Định xưa mà ngày nay chúng ta đang khám phá.
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, “Văn hóa mộ táng” hiện nay là một pho sách đồ sộ, vô giá mà phần lớn còn năm trong lòng đất. Chúng tôi đề nghị các cơ quan chức năng của thành phố thi hành đúng chỉ thị 519/TTg của Thủ tướng Chính phủ, coi mộ táng là tài sản chung của công dân và của Nhà nước. Nghiêm cấm các cơ quan chức năng xây dựng giải toả mồ mả khi không có giấy phép của cơ quan Nhà nước hữu trách. Nếu cố ý phá hoại tài sản văn hoá thì phải được đưa ra truy tố trước pháp luật. Đồng thời, nên làm hồ sơ xếp hạng quy hoạch và bảo vệ các lăng tẩm, mồ mả xưa, dù có chủ hay không có chủ để hậu thế còn biết được những tiền nhân đã đi khai lập còn nằm yên trong lòng đất, nhất là ở đất Gia Định xưa.

English