Chủ Đề Nổi Bật

Loading

Trong bài này, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc một ký giả: Jean Rouch, người được “Bảo Tàng Viện Nhân Loại” (Muse De IHomme) giao cho một công tác tại Tân Guinee (Tây Phi Châu). Ngoài xứ mệnh hoàn thành trên lĩnh vực nghiên cứu dân thiểu số da đen, nhà báo này còn mang về một cuốn phim thực hiện được về giới phù thủy da đen. Đây là lần đầu tiên một người da trắng đã có được kỳ công đó vì từ xưa đến nay dân da đen nói chung và giới phù thủy sắc da này nói riêng rất “kỵ” không để cho người ngoài nhìn vào đời sống của họ, nhất là giới phù thủy. Ngoài cuốn phim thực hiện được về buổi lễ “cắt da quanh qui đầu” cho  những đứa trẻ da đen từ 9 đến 12 tuổi, Jean Rouch còn viết thiên phóng sự điều tra mà chúng tôi xin dịch ra đây để quý bạn đọc thưởng lãm. Từ chin năm nay, các bạn da đen của tôi ở Nien (một nước cộng hòa ở Tây Phi Châu) thường nói với tôi: -Anh cứ tới Wanzerbe sẽ được thấy người ta bay như con chim, có người lại biến đi nữa, có đủ thứ làm cho anh phải ngạc nhiên. Trên bản đồ, Wanzerbe là tên một làng  nhỏ bé có khoảng hơn một ngàn gia đình nằm bên một con sông uốn khúc, làng này có thể coi như một ranh giới giữa cát và nước, giữa một đời sống định cư và một đời sống lang thang của dân du mục và nhất là một biên giới giữa da trắng và da đen. Mùa mưa thì con sông nhỏ “Goniu” nối liền với con sông lớn Niger. Nhưng tới mùa đông thì con sông nhỏ này lại cạn đi. Trong những ngày rộng tháng dài của mùa hè, nắng cháy da con sông này đã biến thành một đường mòn đầy cát, và thỉnh thoảng cũng có xe vận tải chạy trên đường đó. Vào một buổi chiều tháng chạp, đoàn chúng tôi tới Wanzerbe, tôi đi với một hướng dẫn viên, anh Natio Meige, một thông ngôn, anh Damoure Zika và một người đầu bếp trong gia đình tôi anh Lâm (người Việt Nam), có thêm một vài người bạn ở các làng chúng tôi đi qua cũng xin đi theo để thăm Wanzerbe cho biết. Chúng tôi đi bằng ngựa vì tôi đi công tác cho một cơ quan tại Pháp nên tôi đã được sự giúp đỡ của ông Chánh Tổng nơi đó, ông Sourga. Ông ta đội một cái khăn rộng lớn, biểu hiện quyển lực trong vùng dẫn đầu. Chúng tôi tới Wanzerbe vào lúc màn đêm đã bao phủ vạn vật. Thì đây, nơi mà tôi hằng mơ ước được thăm viếng đã hiện ra trước mắt mọi người. Lẽ dĩ nhiên, Wanzerber đối với tôi không phải là một thành phố đầy hoa lệ, không phải thủ đô huy hoàng của ảo thuật, của tà giáo. Làm thế nào để thấy sự khác biệt của nó đói với các làng mạc khác trong khu rừng già của phi châu huyền bí này cũng như căn nhà lá bên sườn đồi hoặc bên khe núi dưới bóng những cây cổ thụ. Tôi trong thấy những người lấp ló bên khung cửa. Những tay phù thủy thì cũng như mọi người làm sao mà phân biệt. Tôi đươc biết dân làng Wanzarber không ưa thích những người xa lạ, nhất là những người da trắng. Họ sẽ thấy tôi người da trắng không phải là một ông quan cai trị họ, không có “tiền hô, hậu ủng” không phải là một “đốc tờ” đến chỉ muốn tiêm muốn chích, chữa bệnh cho dân  làng và cũng không phải là một tay lái buôn nữa vì tôi chẳng có gìn để bán và cũng chẳng hỏi họ để mua. Họ cũng như tôi chưa lần nào gặp mặt, cho nên lần đầu thấy nhau họ đã nghi nghờ tôi: Tôi muốn gì? Anh Natio Meige, người hướng dẫn trong những ngày đàu thường hay nói với tôi: -Rồi ông coi. Ông muốn tìm gì, đến đây ông sẽ hài lòng. Nhưng thực ra, tôi chẳng nhìn thấy gì và chẳng trông thấy gì cả. Đành rằng ở đây có cuộc sống của dân làng trong rừng với đám trẻ con trần truồng ngồi xúm nhau lại chung quanh một bếp lửa vào buổi sáng. Những phụ nữ đạp những cành kê để lấy hạt, bọn trẻ con nô đùa, những đàn bà, con gái đi xách nước ở giếng đào ở ngay  dòng sông mùa nước cạn, có những buổi trưa hè nắng như thiêu đốt. Mội khi tôi gặp một dân làng, bất cứ người nào, cũng giữ họ lại nói chuyện; Họ trả lời không biết gì cả, có khi họ không muốn trả lời nữa. Ông cha họ là những tay phù thủy ngày xưa, bây giờ đến họ, họ bỏ lâu rồi không biết gì vẻ phù thủy nữa. Thế rồi tôi rủ Damoure, người thông ngôn và Lâm người nhà tôi lấy súng đi săn băn vậy. Rồi tới một ngày thứ bảy. đó là ngày phiên chợ, cả làng Wanzerber như tỉnh một giấc mơ. Tất cả dân làng đều ở ngoài đường, kẻ bán hàng ở chợ, người đi mua sắm, tấp nập ồn ào. Hàng có đủ thứ thực phẩm từ hạt muối cho đến các thứ thịt thú rừng, sữa, bơ, các thứ dùng như gỗ cưa ra từng mảnh, có người bán bò, bán ngựa. Khách hàng từ nơi xa hai ngàn cây số đi từ mấy ngày trước để kịp phiên chợ. Nhưng tôi vẫn thấy bên trong có sự mua bán này còn có thứ hàng khác mà người ta bán một cách bí mật. Tối đến, có những cuộc múa nhảy đặc biệt của dân địa phương. Có lối nhảy như bị ma là quỷ ám. Tôi  được một pháp sư người đứng tổ chức mời tới dự cuộc nhảy đó cùng với ông Chánh tổng Sonrgya. Cuộc nhảy kéo dài rất khuya. Khi ấy các người thầy đã mệt mỏi, các thần thánh mới nhập vào họ. Có một người lảo đảo, thở hổn hển, nhớt rãi chảy ra ngoài miệng, tiến về phía tôi, hai tay đưa thẳng: -Tôi có lời chào ông. Tôi chỉ có một mình thôi. Có phải ông tới đây để tìm những thứ bùa phải không? Ông muốn làm gì nào? Bộ trưởng hày thủ tướng hay một nhât vật nổi danh của ngước Pháp? Rồi không đợi tôi trả lời, ông ta quay ra nói với mọi người: – Này các người, các người là dân làng Wanzerbe. Các người là loài cóc đẻ ra nên các người ngu lắm. Ông này là một người da trắng đến tìm mua các đạo bùa mà các người lại nói là không có. Đồ ngu. Chỉ câu nói này cũng đủ cho tôi biết tôi đã chẳng mất công chờ đợi. Tôi sẽ đạt được ý muốn trong khi tôi không cần tỏ ra vội vàng hấp tấp. Tôi đã áp dụng đúng câu nói “biết cách chờ đợi thì rồi cái gì cũng sẽ tới một cách chu đáo” Sáng hôm sau, Natio Meiga dẫn tôi lại một nơi có đông đủ các tay phù thủy. Trước hết, một vị niên trưởng của họ nói chuyện với tôi. Ông cụ này mù, nhưng ở cặp mắt chết ấy trong vẫn còn giữ vẻ nghiêm nghị, huyền bí. Đề cập tới những phép phù thủy ông cụ cho tôi biêt thủy tổ của họ là người đã khai sáng ra môn phái “Sougbat” và tên là Si. Si là một tay phù thủy có phép thuật cao cường như tự biến mình ra con kên kên và biết luôn cả con ngựa của ông ta đang cưỡi nữa. Người và ngựa biết thành đôi chim kên kên bay đi. Rồi sau đó có những người khác cũng tới nói chuyện với tôi như ông Mosi, Ông già Dyadye, ông barake. Ông Barake còn là lý trưởng làng Wanzerbe. Cả ba ông này đểu là những tay phù thủy thuộc phái “Songhet” nhưng Barake là tay giỏi hơn hết thảy các Thầy khác trong làng. Họ đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện về pháp thuật. Họ đã từng khám phá ra được kẻ thù dùng phép tàng hình đến tấn công. Họ đã buộc kẻ thù hiện nguyên hình. Theo lời họ kể họ luôn luôn phải chiến đấu chống lại với những lực lượng của kẻ cậy biết tà thuật làm những điều gian ác. Chống lại với những cái bí mật nhất của kẻ thù. Họ kể cho tôi nghe nhiều chuyện ghê gớm quá, tôi chỉ kịp ghi vắn tắt để nhớ và còn nhiều câu tôi nghe mà ớn lạnh không muốn viết thành chuyện nữa. Đến đêm hôm đó, tôi đang ngủ có Barake đến đánh thức tôi dậy để nói chuyện. Anh Damouse Fike thông ngôn của tôi cho biết Barake còn được gọi là phù thủy của đêm khuya. Barake là tay phù thủy “cừ khôi” nhất trong vùng của phái Souhat. Ông ta có pháp thuật sai khiến được thánh thần. Các tay pháp sư đối với thánh thần phải cầu xin chứ Barake lại ra lệnh. Như vậy có nghĩa là pháp sư còn ở dưới các thánh thần nhưng thầy phù thủy lại ở trên các bậc này. Sở dĩ Barake có được pháp thuật phi thường ấy là nhờ có ba điều kiện: -Cha của Barake là dòng dõi con cháu của Si tức là thủy tổ của phái Soughat -Được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ -Được thừa huổng sự tập luyên của cha truyền con nối. Khi cha của Barake sắp chết đã chọn Barake để kế nghiệp. Trước khi lìa đời, người cha nhả ở trong bụng ra một sợi dây vàng đưa cho Barake nuốt vào bụng trong một buổi lễ Đứa nhỏ được chọn để kế nghiệp cha khi nó lên 10 tuổi, nó được cha dắt vào trong rừng dạy cho biết tên những cây, những lá. Những vỏ cây và lá có những phép màu nhiệm gì? Cha nó còn dạy cách thức lấy vỏ cây và hái lá. Vỏ cây ở về phía Tây Bắc thì lấy như thế nào, phía Đông Nam thì tách ra khỏi thân cây như thế nào? Khi đi lấy vỏ cây và hái lá thì phải ăn mặc ra sao, đi vào hôm nào trong tuần trăng và giờ nào thì hợp và phải đọc một bài chú đại ý như sau: “Tôi đến đây với trí óc minh mẫn Tôi đến đây với bụng dạ chay tịnh Trong tôi chỉ có sự hiểu biết về xóm làng Xin Thân linh cho tôi sự hiểu biết về rừng núi’ Và cây mang về phai phơi khô, tán thành ra một thứ bột và chính thứ bột này dùng để làm bùa phép. Bùa phép được làm tại một nơi vắng vẻ không được để ai nhìn thấy ngoài thầy phù thủy. Trước khi bắt tay vào công việc, thầy phù thủy còn phải ngồi “tập trung” tư tưởng vào bùa phép. Thường thường thì làm một cái bánh bằng mật ông rừng trộn với bột vỏ cây. Tay trột mật ong, miệng đọc thần chú. Sau một thời giai lâu hay chóng bùa phép được hoàn thành, hoặc chính người xin bùa phép ăn bánh đó, hoặc có khi chính thầy phù thủy ăn để chữa bệnh cho người ta. Cũng có khi thứ bột vỏ cây được dùng làm thuốc giúp cho những phụ  nữ quá gẩy, bột ấy trộn vào hạt kê làm cho hạt kê nẩy mầm. Lấy thứ hạt kê nảy mầm ra cho ngươi phụ nữ gầy ốm ăn, chỉ ít lâu sau là những người ấy sẽ béo mật ngay. Cũng có khi đứa con sau khi được chọn nối  nghiệp cha được dậy cách làm bùa phép. Ví dụ như làm bùa phép để giữ mình không sợ gươm, đao đâm chém. Bánh mật ong được đứa bé theo đúng thể thức của người cha trộn với bột vỏ cây với lời thần chú. Sau đó đứa bé ăn chiếc bánh đó, cha nó sẽ thử bằng cách dùng dao chém vào cánh tay đứa bé, nếu con dao ăn được vào thịt dính máu tức là đứa nhỏ chưa thành công, phải làm lại bao giờ có hiệu nghiệm mới được học phép khác. Có rất nhiếu thứ bùa phép khác làm với các thứ lá cây chữa được nhiều thứ bệnh mà thuốc Âu Mỹ chữa không được. Đến đây, tác giả (tức Jean Rouch) mở dấu ngoặc viết rằng về món thuốc chữa bệnh này chúng ta còn phải học hỏi nhiều ở các người da đen. Ngoài ra, học còn có pháp thuật lạ lùng, khi đeo một đạo bùa phép vào người, họ có thể bay lên không trung, họ có thể khiến cho người khác không trông thấy họ. Người ta kể lại chuyện có một thời gian ban ngày mà các cửa tiệm bán vải mất trộm rất thường mà không bắt được thủ phạm. Những nhà cai trị nào hơi có vẻ ác với dân là bị “mang” đi luôn. (chính vấn đề này đã làm điên đầu các nhà cầm quyền Pháp cũng như Tây Ban Nha vào đến năm 1958, Guinee đã khôi phục đuôc nền độc lập). Ngoài ra, đứa bé còn được cha nó giảng dạy về thế giới vô hình , dạy cách thức nhận các vị thần thánh nào hộ mang cho gia đình, dòng họ, những tay phù thủy nào chuyên về tà thuật hại người nhất là các tay phù thủy thuộc về phái tà “Tyarkaw” là những tay phù thủy có thể bắt hồn ngươi sống vế để dâng cho Thần “Tyakaw” của họ. Giữa hai phái phù thủy “Soughat” và “Tyarkaw” vẫn có những trận giao tranh một mất một còn ở trong chốn rừng già vùng Trung Phi Châu. Nhưng ở đời này, dù dưới gầm trời nào cũng vậy, cái “tà” đâu có thắng nổi cái “chánh”, dù có thắng nhưng cũng chỉ là nhất thời để rồi sau đó sẽ bị tiêu diệt luôn. (Anh Độ – Theo Nguyệt San Caliban/ tạp chí Khoa Học Huyền Bí trước năm 1975)

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo